Viện Khoa học Thống kê

Thống kê dịch vụ theo yêu cầu của hiệp định chung về thương mại quốc tế

Email In

Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của nhiều nước. Các giao dịch dịch vụ cũng vượt ra khỏi ranh giới của quốc gia theo xu thế của toàn cầu hoá và còn trở thành lĩnh vực quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Xuất phát từ yêu cầu đó, các nước thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã ký Hiệp định chung về Thương mại Quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ gọi tắt là GATS (General Agrement on International Trade in Services) vào tháng 12 năm 1994. Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1 năm 1995.
Hiệp định GATS -1995 đã đưa ra định nghĩa về 4 hình thái cung cấp dịch vụ làm căn cứ cho việc xây dựng, giám sát và đánh giá việc thực hiện các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ theo lịch trình cho từng lĩnh vực dịch vụ nhất định. Bốn hình thái cung cấp dịch vụ là: Cung cấp qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân.
Xác định phạm vi thương mại quốc tế về dịch vụ theo GATS: Điểm khác biệt của các hình thái cung cấp dịch vụ nêu trên là ở chỗ phạm vi cung cấp dịch vụ ở đây không chỉ giới hạn ở các ranh giới truyền thống giữa "đơn vị cư trú" và "đơn vị không cư trú". Khi đó, hoạt động bán hàng hoá của một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ngay tại thị trường của nước được đầu tư cũng coi là hoạt động thương mại quốc tế về dịch vụ của nước đầu tư. Hình thái cung cấp dịch vụ này được GATS xác định là Hiện diện thương mại”.
Các hoạt động thể hiện qua hoạt động tư vấn ngắn hạn của lao động có tay nghề như chuyên gia ngắn hạn, lao động lành nghề của nước đầu tư tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một phần quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế về dịch vụ. Hình thái này theo GATS là sự hiện diện thể nhân”.
Hai loại hoạt động nêu trên phản ánh sự mở cửa thị trường dịch vụ của mỗi nước cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và cho các chuyên gia tư vấn nước ngoài và được coi là hai hình thái tiếp nhận hay cung cấp dịch vụ vừa quan trọng theo hiệp định GATS -1995 vừa là điểm khác biệt rõ nét so với hiệp định chung về thuế quan và thương mại hàng hoá (GATT). Hiệp định GATT không có quy định nào điều chỉnh các hoạt động về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá.
Hành vi của người cư trú của một nước đi ra nước ngoài và tiêu dùng dịch vụ ngay tại nước đó cũng là một hình thái tiếp nhận hay cung cấp dịch vụ theo GATS -1995. Hình thái này được gọi là "tiêu dùng ở nước ngoài". Ví dụ: người cư trú của nước A đi sang nước B để du lịch hay chữa bệnh cũng là một dạng của hình thái này.
Hoạt động tiêu dùng dịch vụ này cũng thuộc phạm vi thống kê vào khoản mục xuất nhập khẩu du lịch theo quy định của Cán cân Thanh toán Bản sửa đổi lần thứ 5 năm 1993 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (BPM5) và của Hệ thống Tài khoản Quốc gia 1993 (SNA-93) do Liên Hợp Quốc ban hành.
Cũng như thương mại hàng hoá hình thái cung cấp dịch vụ phổ biến nhất là thực hiện cung cấp qua biên giới. Đó là trường hợp một người cư trú của nước A cung cấp các dịch vụ qua biên giới cho người cư trú của nước B qua các hình thức mua bán, trao đổi, biếu tặng, vay mượn. Về cơ bản đây chính là hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ và là phạm vi thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ theo quy định của BPM5 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và SNA-93 của Liên Hợp Quốc.
Như vậy về cơ bản, phạm vi thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ đã phản ánh được các giao dịch dịch vụ thuộc hai hình thái "Tiêu dùng ở nước ngoài" và "Cung cấp qua biên giới". Hai hình thái "Hiện diện thể nhân" và "Hiện diện thương mại" lại thuộc phạm vi thống kê dịch vụ trong nước. Bởi vì, các nhà cung cấp dịch vụ là đơn vị cư trú của nước được đầu tư nên các hoạt động cung cấp dịch vụ của Nhà đầu tư cho đơn vị cư trú của nước được đầu tư chỉ là hoạt động trao đổi nội địa. Hoạt động công tác tạm thời của lao động ngắn hạn hay thể nhân tại doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng chỉ là hoạt động thông thường như người lao động tại các đơn vị cư trú khác và đều cùng tạo ra các sản phẩm nội địa của nước được đầu tư.
Chính vì vậy để tổng hợp thống kê đầy đủ các hoạt động dịch vụ theo bốn hình thái cung cấp như GATS quy định là rất phức tạp, đòi hỏi các nguồn thông tin khác nhau. Việc phân bổ theo từng hình thái cũng không dễ dàng do một hoạt động dịch vụ có thể thuộc các hình thái khác nhau. Ví dụ: Một chuyên gia thiết kế công trình xây dựng cho một công ty có hoạt động đầu tư trực tiếp tại nước B nào đó. Nếu người kỹ sư thiết kế này lập bản thiết kế và gửi sang nước đầu tư thì đó là hình thái cung cấp qua biên giới. Trong quá trình thi công, nếu người kỹ sư này thực hiện chuyến công tác khảo sát thực tế thì hoạt động dịch vụ này lại thuộc hình thái "hiện diện thể nhân". Thêm nữa, trong thời gian công tác tại nước ngoài người kỹ sư này lại tiêu dùng dịch vụ tại nước đó thì hoạt động tiêu dùng này lại thuộc hình thái "Tiêu dùng ở nước ngoài".
Nguyên tắc phân bổ: Khi một hoạt động dịch vụ có thể phân bổ vào 2 hay nhiều hình thái cung cấp khác nhau thì ưu tiên chọn tối đa hai hình thái dịch vụ trội nhất hay chủ yếu để phân bổ.
Xác định danh mục phân loại dịch vụ: Theo hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân (VSIC-1994), các sản phẩm dịch vụ thường không được phân tách một cách rõ ràng, bởi danh mục này chủ yếu phân loại dựa theo tiêu chí hoạt động   dịch vụ. Chính vì vậy, sản phẩm dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh hoặc của ngành sản xuất phụ bị lẫn với sản phẩm hàng hoá.
Để khắc phục yếu điểm của Danh mục phân ngành tiêu chuẩn quốc tế theo hoạt động kinh tế chủ yếu(ISIC), Liên Hợp Quốc đã ban hành Bản Danh mục Tạm thời Phân loại Sản phẩm Trọng tâm (PCPC). Danh mục này đã được Tổng cục Thống kê ban hành năm 1995 và gọi là "Danh mục Sản phẩm Chủ yếu". Đây là bản danh mục đầu tiên có phân loại chung cả sản phẩm là hàng hoá và dịch vụ tiêu chuẩn quốc tế. Phiên bản 1.0 đã được Liên Hợp Quốc ban hành năm 1998.
Theo đúng như tên gọi bản danh mục này, Danh mục CPC đặt trọng tậm hay lấy sản phẩm làm tiêu chí để phân loại. Chính vì vậy, các dịch vụ được chia thành một phần riêng. Bên cạnh đó, các sản phẩm dịch vụ vốn thuộc các hoạt động phụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh hoặc thuộc hoạt động sản xuất phụ cũng được tách và đưa về một nhóm riêng.
Tuy vậy, do các hoạt động dịch vụ trong đa số trường hợp gắn liền với hoạt động sản xuất ra sản phẩm hàng hoá nên việc tách riêng giữa hai loại là rất khó khăn ngay cả ở các nước phát triển và có truyền thống về công tác hạch toán ở cấp độ doanh nghiệp.
Bên cạnh yêu cầu tổng hợp số liệu hoạt động dịch vụ theo danh mục CPC, danh mục phân loại dịch vụ còn được xây dựng theo bản "Danh mục cán cân thanh toán mở rộng" (EBOPS). Đây là bản danh mục được xây dựng dựa chủ yếu vào một danh mục do cơ quan thống kê Châu Âu và OECD phối hợp xây dựng nhưng đã dựa vào yêu cầu thống kê theo 4 hình thái cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của GATS. Tuy nhiên, chính danh mục của EU và OECD lại chủ yếu dựa trên danh mục phân loại của Cán cân Thanh toán (BOP) nhưng có phân loại chi tiết hơn cho một số loại dịch vụ nhưng vẫn bảo đảm tính so sánh với danh mục cán cân thanh toán.
Hai bản danh mục phân loại EBOPS và CPC đều có bảng mã số chuyển đổi nên rất tiện lợi.
Xác định loại Doanh nghiệp để thống kê: doanh nghiệp đầu tư nước ngoài theo quy định của GATS cũng khác với quy định của BPM5, SNA-93 cũng như quy định doanh nghiệp thành lập theo luật định sở tại của mỗi nước.
Ở nước ta, điều 8 "Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam" quy định DN đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp có phần vốn góp của bên nước ngoài không dưới 30% số vốn pháp định. Nghị định 12 CP 18/2/97 quy định rằng trong một số trường hợp phần vốn góp có thể được phép không dưới 20%.
Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi cuối năm 98 quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài thường trú tại Việt Nam (nhà đầu tư) được phép góp vốn hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam với mức không quá 30% vốn điều lệ. Thông tư liên tịch số 10/2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8/7 năm 1999 của Chính phủ, ghi rõ các nhà đầu tư có thể được phép góp vốn hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước với tỷ lệ không quá 30% vốn điều lệ. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước, Nhà đầu tư không bị hạn chế về tỷ lệ góp vốn, tỷ lệ cổ phần. Về thực chất đây cũng là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bởi vì Việt kiều là người không cư trú xét theo quy định của Hệ thống Tài khoản Quốc gia 1993.
Cả BPM5 và SNA-93 đều thống nhất sử dụng giới hạn 10% "vốn đóng góp" hoặc "cổ phần" làm ranh giới xác định một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp đầu tư trực tiếp hay không. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là một doanh nghiệp có nhà đầu tư trực tiếp cư trú ở nước khác nắm giữ không dưới 10% số cổ phần phổ thông hoặc quyền bỏ phiếu biểu quyết.
Tuy vậy hiệp định GATS lại chỉ giới hạn doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là các doanh nghiệp có sở hữu nước ngoài chiếm đa số hay trên 50% hoặc bên nước ngoài có quyền chỉ định đa số thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản lý doanh nghiệp.
Quy định này của GATS vừa dễ cho cơ quan thống kê vì nó sẽ thu hẹp diện các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa gây khó khăn vì phải duy trì đồng thời hai bộ cơ sở dữ liệu.
Xác định nước đối tác để thống kê: Mảng thông tin quan trọng về thương mại dịch vụ đó là số liệu phân theo nước đối tác. Đối với thống kê đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước báo cáo, doanh thu dịch vụ của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được phân loại theo nước đầu tư trực tiếp hay nước đầu tư trung gian và nước đầu tư cuối cùng.
Nước đầu tư trực tiếp là nước của công ty mẹ của doanh nghiệp đó. Nếu công ty mẹ lại là công ty con của một công ty mẹ thuộc một nước thứ 3 thì nước thứ 3 này được gọi là nước đầu tư cuối cùng. Trong phần lớn các trường hợp nước đầu tư trực tiếp và nước đầu tư cuối cùng là một. Chỉ rất ít trường hợp phải thống kê theo nước đầu tư cuối cùng và chủ yếu là các trường hợp với các công ty đa quốc gia.
Việc xác định nước đối tác cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nước báo cáo cũng hoàn toàn tương ứng với trường hợp doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại nước báo cáo.
Số liệu doanh thu cũng được phân   thành 2 loại nước đầu tư trực tiếp và nước đầu tư cuối cùng. Ví dụ: Một công ty A của Việt Nam có mở một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp B tại Liên bang Nga. Doanh nghiệp B tại Liên bang Nga lại mở chi nhánh đầu tư trực tiếp tại Ucraina. Khi đó, Việt Nam sẽ thống kê nước đầu tư trực tiếp là Nga và nước đầu tư cuối cùng là Ucraina.
Việc phân loại theo các loại nước đối tác nêu trên cũng được áp dụng cho thống kê cán cân thanh toán của ngân hàng nhà nước phần tài khoản vãng lai.
Để thực hiện việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào việc biên soạn cán cân thanh toán cũng như sử dụng đồng thời một số danh mục phân loại chuẩn mực như CPC, EBOPS và phân loại theo nước đối tác khác nhau đòi hỏi cố gắng lớn và sự phối hợp chặt chẽ giữa của Cơ quan Thống kê và Ngân hàng Nhà nước trong một khoảng thời gian khá dài. Chỉ trên cơ sở như vậy mới có thể hy vọng khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, số liệu thống kê có thể đáp ứng phần nào yêu cầu trực tiếp và nước đầu tư phục vụ đàm phán thương mại song phương và đa phương.
Tài liệu tham khảo
1. Hệ thống ngành kinh tế quốc dân.- Thống kê: Hà nội 1994
2. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam 1996
3. Luật doanh nghiệp, 1999
4. Luật khuyến khích ĐT trong nước, 1998
5. Nghị định 51/1999/NĐ-CP 8/7/1999
6.Balance of Payments Manual,fifth edition
7. System of National Accounts, 1993, UN.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Đăng nhập

Video



Get the Flash Player to see this player.

Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay501
mod_vvisit_counterHôm qua538
mod_vvisit_counterTrong tuần1628
mod_vvisit_counterTrong tháng17555